Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (manhhoi2000)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    14238323_10154543915446052_5516270957703098658_n.jpg Be_Chuc_Tet.swf DSCF5425.jpg HaiSacHoaigonbyHoangHuy.jpg HuuLoan2.jpg Bai_tho_Nu_trong_di_co_mt_nghin_dan_ong_ca_Rasul_Gamzatovich_Gamzatov__Thicanet.mp3 Dung_vi_em_la_bien.swf 1.swf 11.swf DSCF3912.jpg DSCF3892.jpg DSCF37801.jpg DSCF3750.jpg DSCF3786.jpg 0.images9.jpg NgoiTruongDauYeu-Topca.mp3

    Chào mừng quý vị đến với Website của Trường THCS Đông Sơn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Tản Đà

    0.200px-TanDaNguyenKhacHieu
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Mạnh
    Ngày gửi: 08h:23' 27-04-2009
    Dung lượng: 23.2 KB
    Số lượt tải: 5
    Mô tả:

    Tản Đà (chữ Hán: 傘沱, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 tại Sơn Tây- mất ngày 17 tháng 6 năm 1939) tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viênsông Đà, hai địa danh gần nơi ông sinh ra.

    Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo[cần dẫn nguồn]. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

    Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

    Thề Non Nước
    Nước non nặng một lời thề
    Nước đi đi mãi không về cùng non
    Nhớ lời nguyện nước thề non
    Nước đi chưa lại non còn đứng không
    Non cao những ngóng cùng trông
    Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
    Xương mai một nắm hao gầy
    Tóc mây một mái hãy còn tuyết sương
    Trời tây nổi bóng tà dương
    Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
    Non cao tuổi vẫn chưa già
    Non thời nhớ nước, nước mà quên non
    Dù cho sông cạn đá mòn
    Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa
    Non xanh đã biết hay chưa
    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
    Nước non hội ngộ còn luôn
    Bảo cho non chớ có buồn làm chi
    Nước kia dù hãy còn đi
    Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
    Nghìn năm giao ước kết đôi
    Non non nước nước không nguôi lời thề
    Muốn làm thằng cuội
    Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
    Trần thế em nay chán nửa rồi
    Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?
    Cành đa xin chị nhắc lên chơi !
    Có bầu có bạn can chi tủi
    Cùng gió cùng mây, thế mới vui !
    Rồi cứ mỗi đêm rằm tháng tám
    Cùng nhau trông xuống thế gian cười.
    Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu (dịch)
    Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
    Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
    Hạc vàng đi mất từ xưa
    Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
    Hán Dương sông tạnh cây bày
    Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
    Quê hương khuất bóng hoàng hôn
    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
    Tống biệt
    Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
    Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi
    Nửa năm tiên cảnh
    Một bước trần ai
    Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi!
    Đá mòn, rêu nhạt
    Nước chảy, huê trôi
    Cái hạc bay vút tận trời
    Trời đất từ đây xa cách mãi
    Cửa động
    Đầu non
    Đường lối cũ
    Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

     


    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến