Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (manhhoi2000)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    14238323_10154543915446052_5516270957703098658_n.jpg Be_Chuc_Tet.swf DSCF5425.jpg HaiSacHoaigonbyHoangHuy.jpg HuuLoan2.jpg Bai_tho_Nu_trong_di_co_mt_nghin_dan_ong_ca_Rasul_Gamzatovich_Gamzatov__Thicanet.mp3 Dung_vi_em_la_bien.swf 1.swf 11.swf DSCF3912.jpg DSCF3892.jpg DSCF37801.jpg DSCF3750.jpg DSCF3786.jpg 0.images9.jpg NgoiTruongDauYeu-Topca.mp3

    Chào mừng quý vị đến với Website của Trường THCS Đông Sơn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Danh nhân Xứ Thanh: Trạng Quỳnh

    0.images3
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Mạnh
    Ngày gửi: 20h:26' 10-04-2009
    Dung lượng: 4.4 KB
    Số lượt tải: 2
    Mô tả:

    Hũ tương Đại phong

     Triều đình ngày nào cũng có yến tiệc ,sơn hào hải vị cùng các thứ thức ăn quí hiếm gọi là cứ thừa mứa không có chỗ mà đổ. Bởi thế nên nhà vua ăn mãi cũng chán lên đến tận cổ những thứ ấy, lại không còn thức gì chưa ăn. Một hôm rỗi rãi, vua kêu Quỳnh vào hỏi:
    - Trên đời này có bao nhiêu thứ của ngon vật lạ ta đã đều ăn qua, nhưng chả lẽ chỉ có bấy nhiêu là hết rồi hay sao? Có còn thứ gì ngon mà lạ hơn không nhỉ?
    - Có một món cực ngon gọi là mầm đá, chẳng hay bệ hạ đã nếm qua chưa ạ?
    Vua bảo rằng cái tên món ăn nghe lạ và mình cũng lần được ăn, xong lại bảo muốn thưởng thức món ấy ngay. Quỳnh thưa:
    - Món ăn ngon tất phải cực, nấu món đó rất công phu và tốn nhiều thời gian …
    Vua nói :
    - Ta muốn ăn vật lạ, lại rảnh rang không biết làm gì cho hết ngày, lo gì không đợi được. Trạng nhớ mau mau làm món ấy cho ta ăn thử nhé!
    Hai hôm sau, Quỳnh cho gia nhân mang thiếp vào cung mời vua ngự giá đến nhà mình thưởng thức món mầm đá. Vua lật đật đi ngay.
    Ðến nhà, vua thấy Quỳnh lăng xăng chạy tới chạy lui trong bếp, mồ hôi cha mồ hôi con cứ tươm ra như tắm. Thấy thế, vua lại càng nôn nóng, giục Quỳnh nấu mau mau cho mình hưởng cái món độc đáo ấy.
    Ðến quá trưa, Quỳnh vẫn cứ lăng xăng dưới bếp, chả thấy nói năng gì đến thức ăn được hay chưa cả. Vua đói bụng lắm rồi, bèn gắt:
    - Cái món quái quỷ gì mà nấu lâu thế? Ta không đợi được nữa rồi đây này!
    Quỳnh ra vẻ mệt mỏi, tâu:
    - Xin bệ hạ đợi cho chút nữa, sắp xong rồi ạ…
    Ðúng là không biết phải làm sao tốt hơn là đợi nên vua đành bấm bụng, tiếp tục đợi. Khốn thay, cho tới sẩm tối Quỳnh vẫn cứ bảo là chưa được. Vua đói quá bèn nói :
    - Không thể đợi được nữa! Trong nhà có thức gì khác cứ dọn lên cho ta ăn qua loa một miếng đi!
    Quỳnh vâng dạ rồi sai gia nhân dọn cơm lên phản cho vua xơi. Vua nhìn thấy mâm cơm rõ là xoàng xĩnh: chỉ có vỏn vẹn đãi rau luộc! Trong mâm có cái hũ sành nhưng vua chả biết đó là cái chết tiệt gì! Lúc chuẩn bị ăn, vua chỉ vào cái hũ rồi hỏi :
    - Trong đây đựng món gì?
    - Thưa, đấy là món “đại phong,” ạ!
    Quỳnh rót một ít cái thứ nước sền sệt gọi là “đại phong” ra chén rồi mời vua chấm rau. Vừa nhai rau trong miệng, vua vừa thốt lên:
    - Ngon quá, ngon quá! Nhà Trạng kiếm được cái thứ này ở đâu ra vậy, và tại sao lại gọi nó là đại phong?
    Quỳnh thưa:
    .- Bẩm, phong là gió, đại là lớn, mà gió lớn thì đổ chùa đấy ạ!
    Vua ngẩn ra vì ngạc nhiên. Quỳnh giải thích tiếp:
    - Ðổ chùa thì tượng lo, đọc lái lại là lọ tương. Bẩm, quả thực đó chỉ là một lọ tương rất tầm thường mà trong nhà những người nghèo đều có ạ! Sở dĩ Bệ hạ ăn thấy ngon như thế vì lâu nay toàn thưởng thức những sơn hào hải vị nên bây giờ thấy tương đậu cũng ngon, hơn nữa… vì bệ hạ đang đói cồn cào…
    Vua đã hiểu ra cái chân lý đơn giản ấy, bèn cười và cám ơn Trạng về bữa ăn ngon miệng rồi lên kiệu trở về.

    Làm thơ xin ăn

     Tại một làng thuộc tỉnh nọ có tên địa chủ giầu có nứt vách, lại nổi tiếng gian ác và hay hà hiếp dân lành. Hắn có cô con gái tuy đẹp nhưng cũng nổi tiếng không kém cha về cái thói chua ngoa đanh đá. Cô gái này thường thay cha ra đồ nam đốc thúc kẻ làm thuê.

    Một hôm, cô ta đang đứng trên bờ ruộng, tay chống nạnh, đầu có nón quai thao, quan sát các nông dân làm thuê gặt lúa thì có một chàng thiếu niên dáng vẻ nho sinh đi ngang qua. Nho sinh thấy cảnh đó liền dừng lại hỏi thăm một bác nông dân về cô gái kia. Bác nông dân bảo cô ta là con gái của chủ ruộng, ngày nào cũng ra đứng đây để mà đôn đốc việc đồng áng, nói là thế nhưng thật ra ai làm lụng chậm chạp một tí là cô ta ngoác miệng ra chửi chẳng tiếc lời. Có lắm người tuy đói nhưng ráng chịu chứ không làm thuê cho cô ta để khỏi bị nhục.

    Nghe kể xong, chàng thiếu niên liền tiến đến gần bờ ruộng nơi cô kia đang đứng. Thiếu niên bảo cô nàng mình là học trò lỡ độ đường, nhịn đói đã hai ba bữa nay, xin cô gia ân bố thí cho ít lúa thổi cơm.

    Thấy chàng trai khôi ngô khoẻ mạnh lại đi xin ăn, cô gái nguýt dài và bảo:

    - Này, cô bảo cho biết, của đâu mà lấy không của người ta hả, nếu đúng học trò thì ứng khẩu xuất thi cho cô nghe lọt lỗ tai đã, bằng không thì cứ thẳng đường mà xéo!

    Chàng thiếu niên kia nhận lời ngay và xin cô gái ra chủ đề cho mình làm thơ. Cô kia bảo:

    - Ðã ăn xin còn vẽ chuyện, cứ làm thơ xin ăn là hợp nhất chứ còn đề điếc gì nữa!

    Chàng trai suy nghĩ trong thoáng chốc rồi đọc to:

    Tuyên Quang, Hoằng Hoá cũng thờ vua
    Nắng cực cho nên phải mất mùa
    Lại đứng đầu bờ xin xỏ chị
    Chị lỡ lòng nào chị chẳng cho.

    Nghe xong bốn câu thơ ấy, cô gái đỏ gần cả mặt, ngượng quá không còn biết nói năng gì nữa cả, vội vội vàng vàng lấy lúa đưa cho chàng trai kia. Chàng kia chẳng thèm cám ơn, đi thẳng một mạch trong tiếng cười khúc khích của các người làm ruộng thuê.

    Về sau, người ta biết ra chàng trai ấy chính là . Còn phần cô gái thì sao? Cô ta mất hẳn cái thói đanh đá chanh chua, mà cũng từ hôm ấy, không thấy cô ra đồng đứng chống nạnh như trước nữa.

    Đất nứt con bọ hung

      Từ thuở bé, ngoài tính nghịch ngợm, hiếu động, Quỳnh còn tỏ ra thông minh xuất chúng khi học rất giỏi và đối đáp hay, nhất là khi ứng khẩu.
    Trong làng cậu bé Quỳnh có một người hay chữ nhưng tính tình kiêu ngạo, đi đâu cũng khoe khoang, tên gọi là ông Tú Cát. Tất nhiên, từ nhỏ Quỳnh đã ghét những người có bản tính như vậy. Một hôm, Quỳnh đang đứng xem đ àn lợn ăn cám thì Tú Cát đi qua. Đã được nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, Tú Cát không ưa gì Quỳnh, ông ta ra vẻ kẻ cả gọi Quỳnh đến bảo:
    - Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mà không đối được thì sẽ biết tay. Nhất định ta sẽ đánh đòn cho chừa các tật láo, nghe chưa!
    Nói xong, không đợi Quỳnh thưa lại, Tú Cát liền gật gù đọc:
    - “Lợn cấn ăn cám tốn.”
    Đây là một câu đối rất hắc búa bởi “Cấn” và “Cám” vừa chỉ lợn và thức ăn của lợn, lại vừa là hai quẻ trong kinh Dịch, người có học nhiều còn thấy khó. Thế nhưng, không nao núng, Quỳnh đọc lại ngay:
    - “Chó khôn chớ cắn càn.”
    Quả là một vế đối vừa chỉnh vừa có ý xỏ xiên. “Khôn” và “Càn” cũng là hai quẻ trong kinh Dịch, Quỳnh lại còn ngầm ý chưởi Tú Cát là đừng có mà rắc rối. Bị thằng nhỏ hơn mình chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm, hầm hầm bảo:
    - Được để coi mầy còn thông minh đến cỡ nào. Tao còn một vế nữa, phải đối ngay thì tao phục!
    Nói xong Tú Cát đọc ngay:
    - “Trời sinh ông Tú Cát!”
    Vế vừa ra mang tính cách ngạo nghễ, phách lối. Nào ngờ, Quỳnh chỉ ngay xuống đất, dưới lớp phân heo đ ùn lên những ụ nhỏ mà đáp:
    - “Đất nứt con bọ hung!”
    Đến nước này thì dù tức đến hộc máu mồm, Tú Cát cũng đ ành cút thẳng.

    Ngọa sơn

    Một buổi trưa, Quỳnh vào hầu Chúa, không thấy Chúa ở cung, hỏi thị vệ, thì ra Chúa đương giấc. Quỳnh không được tiếp, sẵn bút nghiên, đề ngay hai chữ vào tường rồi trở ra về.

    Lúc Chúa dậy ra công đường, thấy ở tường có hai chữ “ngọa sơn” nét mực hãy còn ướt, không biết ai đề và cũng không biết nghĩa làm sao, hỏi thị vệ mới hay Quỳnh đề. Ðến buổi hầu chiều, đông đủ các quan, Chúa hỏi, không ai tán được, phải triệu Quỳnh đến.

    Quỳnh đến, Chúa hỏi. Quỳnh thưa:

    - Hai chữ ấy có nghĩa gì sâu sắc đâu, hạ thần cứ lấy nghĩa đen mà viết, không dám có ý tứ gì hiểm hóc cả.

    - Cứ cắt nghĩa cho ta nghe, không hề chi mà ngại.

    Quỳnh ngập ngừng mãi, mới nói:

    Chữ “ngọa” nghĩa là “nằm”, “nằm” hẳn không ai nằm không, tất phải ngáy, chữ “sơn” nghĩa là “núi”, “núi” ắt phải có đèo, vậy hợp hai chữ làm một thì nghĩa là “ngáy đèo”.

    Cả triều thần ai cũng cười. Chúa cũng bật cười. Tan hầu, các quan trách Quỳnh:

    May mà Chúa rộng lượng, chứ không thì hôm nay ông mất đầu!

    Tượng đá mất thiêng

    Hồi ấy, gần xứ Quỳnh ở, có một pho tượng đá rất kỳ lạ, trần truồng đứng giữa đồng, miệng tủm tỉm cười, tay trỏ xuống chỗ kín, gọi là tượng bà Banh.
    Pho tượng kỳ cục vậy nhưng linh lắm, ai đi qua trông thấy, nhếch mép cười thì không xếch mồm cũng méo miệng. Đồn rằng đó là chỗ người Tàu giấu của, thiêng lắm. Quỳnh nghe đồn, đi xem. Đến nơi thấy tượng trần truồng mà chân lại đi giày, cổ đeo hạt. Quỳnh không cười không nói, cầm bút đề ngay vào ngực tượng một bài thơ nôm rằng:
    Khen ai đẽo đá tạc nên thầy!
    Khéo đứng ru mà đứng mãi đây?
    Trên cổ đếm đeo dăm chuỗi hạt.
    Dưới chân đứng chéo một đôi giày,
    Ấy đã phất cờ trêu ghẹo tiểu,
    Hay là bốc gạo thử thanh thầy?
    Có ngứa gần đây nhiều gốc dứa,
    Phô phang chi ở đám quân này.
    Quỳnh đề thơ xong, bỏ đi. Tượng đá bỗng toát mồ hôi ra từ đó mất thiêng.

    Trạng chết Chúa cũng băng hà

    Từ ngày ấy Chúa có bụng ghét Quỳnh. Được mươi hôm, Chúa đòi Quỳnh vào thị yến, định đánh thuốc độc cho chết.
    Quỳnh biết Chúa căm về mấy chuyện trước, lần này đòi vào thị yến chắc là có chuyện. Lúc đi dặn vợ con rằng:
    - Hôm nay ta vào hầu yến Chúa, lành ít, dữ nhiềụ Ta có mệnh hệ nào, thì không được phát tang ngay, cứ phải để ta vào võng, cắt hai đứa quạt hầu, rồi gọi nhà trò về hát, đợi bao giờ phủ Chúa phát tang thì ở ngoài hãy phát tang.
    Dặn xong, lên võng đị Quỳnh vào đến cung, đã thấy Chúa ngồi đấy rồị Chúa bảo:
    - Lâu nay không thất mặt, lòng ta khát khao lắm. Vừa rồi, có người tiến hải vị, ta nhớ đến ngươi, đòi vào ăn yến, ngươi không được từ. Quỳnh biết Chúa thù về cây cải hôm nọ, không ăn không được. Vừa ném một miếng thì Chúa hỏi:
    - Bao giờ Quỳnh chết?
    Quỳnh thưa:
    - Bao giờ Chúa băng hà thì Quỳnh cũng chết.
    Ăn xong, Quỳnh thấy trong người khang khác, cáo xin về. Vừa về đến nhà thì tắt hơị Vợ con cứ theo lời Quỳnh dặn mà làm. Chúa sai người dò xem Quỳnh có việc gì không, thấy Quỳnh đương nằm võng nghe nhà trò hát, mà người nhà thì đi lại vui vẻ như thường, về tâu với Chúạ Chúa liền đòi đầu bếp lên hỏi xem đánh thuốc thế nào mà Quỳnh không việc gì.
    Chúa ăn thử, được một chốc thì Chúa lăn ra chết. Nhà Quỳnh nghe thất trong dinh Chúa phát tang, thì ở nhà cũng phát tang. Chúa và Trạng đưa ma một ngàỵ Thế mới biết Quỳnh chết đến cổ còn lừa được Chúa mới nghẹ Người đời về sau có câu thơ:
    - Trạng chết Chúa cũng băng hà
    - Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn.

    Cây nhà lá vườn

    Quỳnh nhiều lần thất lễ với chúa, nên trước Chúa quý trạng bao nhiêu thì sau lại ghét bấy nhiêụ Quỳnh thất Chúa ghét, lại càng trêu tợn.

    Một lần, Chúa sai lính đến kéo đổ nhà Quỳnh. Quỳnh thấy lính đến thì bảo:

    - Chúa sai các anh đến kéo đổ nhà ta thì các anh cứ việc kéo, không được reo, được cười, ai mà reo cười thì ta cắt lưỡị

    - Nghề kéo nặng thì phải reo hò, không dô ta, không hò khoan đố ai kéo được. Bọn lính phải chịu về không.

    Lại một lần nữa, Chúa sai lính đến ỉa giữa nhà Quỳnh. Quỳnh cầm dao ra bảo lính:

    - Chúa sai các anh đến ỉa giữa nhà ta, thì cứ việc ỉa, nhưng cấm đái, anh nào mà đái ta cắt dá.i

    Đi ỉa ai mà nhịn đái được, bọn lính phải cắp đít về. Có một vài anh lính nghe thấy thế, đái ở trước nhà, rồi mới đến ỉa, lại đem gáo dừa đề phòng.

    Quỳnh thấy nó lập mưu trước, đành chịu nhưng trong bụng căm lắm, bèn kiếm cách xược lại Chúạ.

    Ít lâu sau, Quỳnh đi mua một cây cải thật to sai người đem dâng, làm cơm chúa xơị Khi Quỳnh vào hầu, Chúa hỏi cải đâu mà to lạ thế và khen ngon. Quỳnh thưa:

    - Cải nhà trồng, trước nó không to mấy, nhờ độ nọ Chúa sai lính đến ỉa nhà thần, thần đem phân ấy bón cho, nên lớn bổng lên thế. Cây nhà lá vườn đem dâng để chúa xơị Chúa Trịnh tái mặt lạị.

    Trả ơn chúa Liễu

    Gặp khoa thi, Quỳnh ra ứng thị Đường đi qua đến Sông, Quỳnh vào yết Chúa, xin Chúa phù hộ cho, đỗ thì xin trả lễ.
    Quỳnh ra thi, quả nhiên đỗ thật. Vinh qui về, Quỳnh mua một con bò mẹ, một con bò con, đem đến lễ, Quỳnh quỳ xuống lạy, rồi dắt con bò mẹ đến buộc vào tay ngai mà khấn rằng:
    - Chúa có lòng thương phù hộ cho Quỳnh được đỗ, nay gọi là có một con bò để trả lễ. Xin Chúa nhận chọ Chúa là chị, xin lễ con lớn, còn con nhỏ, em xin đem về khao dân.
    Nói rồi, dắt con bò vè. Con bò mẹ thấy dắt mất con đi, lồng lên chạy theo, làm ngai Chúa đổ lổng chổng, long gẫy cả. Quỳnh cười nói:
    - Chị thương em nghèo, trả không lấy, thì em xin đem về vậỵ

    Lỡm quan thị

    Có một ông quan thị đại nịnh thần, được Chúa Trịnh yêu lắm. Ông ta thường đến chơi nhà Quỳnh, thấy sách gì cũng mượn xem, mà ít khi trả. Quỳnh ghét cay ghét đắng, định chơi xỏ một bận cho chừạ Quỳnh bèn lấy giấy trắng đóng thành quyển sách để sẵn.
    Một hôm, thấy bóng quan thị đằng xa, Quỳnh giả vờ cầm sách xem, đợi khi ông ta đến nơi thì giấu đị Quan thị thấy Quỳnh giấu, ngỡ là sách lạ, đòi xem Quỳnh bảo:
    - Sách nhảm có gì mà xem.
    Quan thị năn nỉ mãi cũng không được, về tâu với Chúạ Chúa đòi Quỳnh sang hỏị Quỳnh đám chắc là đò về chuyện quyển sách, mới lấy bút viêt mấy câu vào sách bỏ vào tráp khoá lại, rồi sang hầụ Quả nhiên như thế. Quỳnh tâu:
    - Không có sách gì lạ, chắc thị thần tâu man với Chúa đó.
    Chúa thấy Quỳnh chối, lại càng tin là Quỳnh có sách lạ, bắt phải đem trình. Quỳnh sai người vè đem tráp sang, mở ra, chỉ thấy có một quyển sách mỏng. Quỳnh rụt rè không dám đưạ Chúa bảo:
    - Cứ đưa ta xem. Nếu sách lạ thì ta thưởng, mà có phải sách can phạm thì ta cũng xá cho, đừng ngại .
    Quỳnh đưa ra . Chúa mở ra xem, chỉ thấy có mấy câu: “Chúa vị thần viết: Vi cốt tứ địch, vi cốt tứ địch. Thị thần qui nhị tấu viết: Thần phong chỉ phát, thần phông chỉ phát”. Chúa ngẫm lại không biết nghĩa ra làm sao, bảo Quỳnh cắt nghĩa thì Quỳnh rụt rè tâu:
    - Sách ấy là sách nhảm nhí của tiểu thần chỉ xem khi buồn, sợ cắt nghĩa ra rác tai Chúa!
    Chúa nhất định không nghe, bắt Quỳnh cắt nghĩa cho được. Quỳnh vâng lệnh tâu với Chúa, câu ấy nghĩa là: “Chúa hỏi thị thần rằng:
    - Làm xương cho sáo, làm xương cho sáọ Thị thần quỳ mà tâu rằng: “Tôi may ngón tóc, tôi may ngón tóc”. Quỳnh cắt nghĩa, nhưng chúa vẫn chưa hiểu ra, lại hỏi:
    - Đa đành nghĩa đen là như thế, nhưng ý tứ thế nào ?
    Quỳnh tủm tỉm cười không dám nóị Chúa và quan thị đứng hầu bên càng gặng hỏị Quỳnh mới tâu:
    - Xin chúa đọc đảo lại thì ra nghĩa, nhưng mà tục lắm.
    Bấy giờ Chúa với quan thị mới biết Quỳnh lỡm, bảo Quỳnh mang sách về. Quỳnh ra, quan thị chảy theo trách Quỳnh nhạo cả Chúa, thực là người vô phu, vô quân. Quỳnh dáp lại rằng:
    - Ngài bảo tôi là vô phu, vô quân thì bọn thưòng thị đời Hậu Hán là gì? Tôi đã giấu mà ngài cứ nịnh để đòi ra cho được thì lỗi tại ai ?
    Quan Thị tịt mắt.

    Phơi sách

    Ở vùng Quỳnh dạy học có một lão trọc phú rất dốt nhưng lại thích nói chữ. Thỉnh thoảng, lão lò mò sang nhà Quỳnh mượn sách, bảo là về đọc,g Quỳnh biết hắn chỉ đem cất vào xó. Một lần, thấy hắn lấp ló ngoài cổng, quỳnh vội vác ngay chiếc chõng tre ra sân, cởi áo nằm phơi bụng. Lão trọc phú bước vào, thấy lạ, liền hỏi:

    - Thầy cống làm gì thế ?

    Quỳnh đáp :

    - à, có gì đâu ! Hôm nay trời nắng, tôi đem sách ra phơi cho khỏi mốc !

    - Thế sách ở đâu ?

    Quỳnh chỉ vào bụng :

    - Sách ở trong này này !

    Biết mình bị đuổi khéo, tên trọc phú lủi thủi ra về, trong lòng tức lắm. Lần khác, hắn cho người sang mời Quỳnh đến nhà, để rửa mối nhục cũ, hắn cũng bắt chước, cởi trần trùng trục rồi nằm phơi bụng ra giữa nắng mà đợi khách. Quỳnh vừa bước vào, hắn cất giọng nhái:

    - Hôm nay trời nắng, tôi đem sách ra phơi cho khỏi mốc.

    Bỗng Quỳnh cười toáng lên, lấy tay sờ vào thân mình hắn, nói:

    - Láo toét ! Bụng ông thì làm quái gì có sách mà phơi chứ !

    Lão trọc phú trố mắtkinh ngạc :

    - Sao thầy biết ?

    Quỳnh cuối xuống vỗ nhẹ vào cái bụng đầy mỡ núc ních nói :

    - Ông nghe chứ, bụng ông nó đang kêu “bộp, bộp “đây này ! Cơm, gà, cá, lợn… toàn những thứ khó tiêu đầy cả ruột thế này thì còn chỗ đâu mà chứa sách cơ chứ ! Thôi, ngồi dậy mà mặc áo vào nhà đi thôi !

    Lão trọc phú cứng họng, không còn biết đối đáp như thế nào, bèn lồm cồm ngồi dậy, vào nhà một cách miễn cưỡng.

    Ông nọ bà kia

    Ở làng Quỳnh có mấy người tấp tành công danh, nay cầu mai cục nhờ Quỳnh gây dựng cho, may ra được tí phẩm hàm để khoe với làng nước.
    Một hôm, Quỳnh ở kinh đô về, sai người mời mấy anh ấy lại bảo:
    - Giờ có dịp may, nào các anh có muốn làm ông nọ bà kia thì nói ngaỵ
    Thấy Quỳnh ngỏ lời như thế, anh nào cũng như mở cờ trong bụng, tranh nhau nhận trước. Quỳnh bảo:
    - Được các anh về nhà thu xếp khăn gói, rồi lại đây uống rượu mừng với ta, mai theo ta ra kinh đô sớm. Anh nào anh nấy lật đật về nhà, vênh váo, đắc chí lắm, có anh về đến cổng, thấy vợ đang làm lụng lam lũ, liền bảo vợ:
    - Ít nửa làm nên ông nọ bà kia, không được lam lũ thế mà người ta cười chọ Vợ hỏi:
    - Bao giờ làm quan mà khoe váng lên thế?
    - Nay mai thôi, sắp sửa khăn gói để mai đi sớm! Nói xong, vội vàng lại nhà Quỳnh đánh chén. Anh nào anh nấy uống say tít, rồi mỗi anh nằm một xó. Đến khuya, Quỳnh sai người đem võng, võng anh nọ về nhà anh kia, anh kia về nhà anh nọ, nói dối rằng: Say rượu ngộ cảm phải bôi dầu xoa thuốc ngay không thì oan gia! Các “bà lớn” đang mơ màng trong giấc mộng, thấy người gõ cửa mà lại nói những chuyện giật mình như thế, mắt nhắm mắt mở, tưởng là chồng, ôm xốc ngay vào nhà, không kịp châm đèn đóm, rồi nào bôi vôi, nào xoa dầu, miệng lẩm bẩm: “Rượu đâu mà rượu khốn, rượu khổ thế! Ngày mai lên đường mà bây giờ còn say như thế này! Nhờ phúc ấm có làm được ông nọ bà kia thì cũng lại tiền toi thôi!” Xoa bóp cho đến sáng, nhìn thì hoá ra anh láng giềng, các bà ngẩn người mà các anh đàn ông kia lại càng thẹn, cứ cúi gầm mặt xuống cút thẳng. Về nhà thấy vợ mình cũng đang ngẩn người, đỏ mặt tía tai, vội nói ngay:
    - Ai ngờ nó… xỏ thế! Tưởng ông nọ bà kia là thế nào! Thôi kệch đến già!

    Chửi cha thằng Bảo Thái

    Quỳnh vốn thích đùa, lại thêm trong bụng không ưa nhà vua là kẻ hay nghe lời gièm nịnh của đàm ô quan trong triều. Một hôm bèn nghĩ cách cho nhà vua một vố.

    Sáng sớm hôm ấy, Quỳnh bảo gia nhân ra chợ nói với các nhà hàng thịt rằng có sứ Tàu sang chơi, triều đình chuẩn bị làm tiệc rất to để khoản đãi nên nhà vua sai mình ra chợ dặn các hàng thịt không được bán cho ai nữa. Tất cả thịt ở chợ - heo, bò, gà, chó… cứ việc đem mà sắt vụn ra sẵn, đến trưa sẽ có người ra lấy hết.

    Các chủ hàng thịt hí hửng, tưởng là được một mẻ khá, thi nhau thái thịt vụn ra rồi ngồi chờ. Nhưng chờ mãi cho đến trưa cũng chả thấy ai, cho tới khi trời đã xế chiều vẫn chẳng thấy ma nào ra lấy thịt. Có kẻ tức quá bèn tìm đến tận nhà Quỳnh mà hỏi cho ra lẽ. Quỳnh nói với họ:

    - Chắc là ai muốn chơi sỏ tôi, làm hại các bác đấy thôi chứ có tiệc tùng gì đâu nào? Ðã thế, các bác cứ việc lôi những ai “Bảo thái” ra mà chửi cho đỡ tức!

    Các chủ hàng thịt không biết tên kẻ đã bảo họ thái thịt, đành nén hơi gào lên chửi. Anh nọ bảo chị kia:

    - Chửi đi! Kéo cả mồ mả nhà nó kên mà chửi. Cha nó chứ! Cái thằng “Bảo Thái”!

    Thi vẽ

    Sứ Tàu vốn là một tay vẽ rất giỏi. Một hôm, hắn khoe tài với Quỳnh, ra giọng thách thức:

    - Ta chỉ nghe ba tiếng trống đánh là vẽ xong một con vật. Người có thể làm như thế không?

    Quỳnh cười đáp:

    - Thưa, chỉ nghe một tiếng trống mà vẽ xong đến mười con vật như tôi mới tài, chứ phải ba tiếng trống mới vẽ được một con thì sao gọi là tài cho được!

    Sứ Tàu nghe nói tức lắm, nghĩ bụng phải cho cái thằng này biết tài mới được, thách Quỳnh thi vẽ với hắn. Quỳnh nhận lời ngay.

    Ðến lúc thi, nghe tiếng trống đầu tiên, sứ Tàu liền cắm cúi vẽ lấy vẽ để. Quỳnh thì cứ ung dung ngồi dưới chiếu nhai trầu, xem như người đang ngồi hóng gió chứ không phải thi thố gì cả. Tiếng trống thứ hai nổi lên, sứ Tàu liếc thấy Quỳnh vẫn cứ ngồi đó ngâm nga. Nghe tiếng trống thứ ba, Quỳnh mới đứng lên, tiến tới bàn, nhúng cả mười đầu ngón tay vào nghiên mực rồi trét lên giấy thành mười vệt dài ngoằn nghoèo. Khi đó, sứ Tàu chưa vẽ xong được hình thù con vật nào cả.

    Thời gian so tài đã hết, Quỳnh đưa tờ giấy ra, bảo với sứ Tàu:

    - Ông thua cuộc rồi đấy nhé ! Tôi đâu có nói ngoa, chỉ nghe một tiếng trống thôi là tôi vẽ xong ngay mười con giun đất đây này.

    Sứ Tàu muốn ôm đầu kêu trời, đành thua mẹo của Quỳnh một lần nữa.

    Đón sứ Tàu

    Triều đình chuẩn bị đón sứ nhà Thanh sang nước tạ Chúa nghe nói tên này là kẻ hống hách, hợm hĩnh, bèn kêu Quỳnh vào, giao cho giữ việc nghênh tiếp.

    Quỳnh phụng mạng vua, đồng thời xin triệu thêm bà Đoàn Thị Điểm giả làm người bán hàng nước cho khách qua đường, còn mình giả trang làm anh lái đò đưa sứ bộ qua sông.

    Khách Tàu đến, đi ngang quán bà Điểm, thấy trong hàng có một cô gái xinh xắn ngồi bán, liền hùa nhau kéo vào uống nước, sẵn có buông lời chọc ghẹo, bỡn cợt. Một tên líu lo đọc bâng quơ:

    “Nam bang nhất thốn thổ bất tri nhân canh”
    (Một tấc đất nước Nam không biết bao nhiêu người cày, ý cho rằng đàn bà nước Nam lẳng lơ)

    Bà Điểm đang nhai trầu, nhổ toẹt một bãi, đọc:

    “Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất”
    (Bọn quan quyền phương Bắc đều từ chỗ đó mà ra cả )

    Nghe xong câu ấy, cả bọn ngừng uống nước, tròn mắt, há hốc miệng nhìn bà Điểm. Chúng không thể ngờ rằng một bà bán nước bên đường lại có sức học kinh người đến thế !

    Khách ra đi, xuống đò của Quỳnh. Khi đò đến giữa sông, một tên trong nhóm sứ Tàu nhột bụng, vãi rắm nghe một tiếng “bủm”. Không thấy xấu hổ thì thôi, hắn còn đọc một câu chữa thẹn xấc xược:

    Lôi động Nam bang (Sấm động nước Nam)

    Quỳnh đang cầm chèo, liền đứng cậy vạch quần đái vòng cầu qua đầu sứ, vừa đái vừa đọc:

    Vũ qua Bắc hải (Mưa qua bể Bắc)

    Tên sứ Tàu giận điên tiết, xộc lại định đánh Quỳnh, Quỳnh trở cán chèo thủ thế rồi mắng:

    “Tiền phát lôi, hậu phát vũ, thiên địa chi lý nại hỉ ”
    (Sấm động trước, ắt sau sẽ có mưa, luật trời đất là thế )

    Cả bọn khách Tàu sửng sốt nhìn nhau, không thốt được một lời vì câu đối đáp bắt bí quá đúng của anh lái đò. Cả nhóm trong bụng vừa tức, vừa sợ, cứ ngậm miệng cho đến nơi.

    Thừa giấy vẽ voi

    Trong lần thi hội, Cống Quỳnh không có ý định ứng thí, nhưng vì nể lời chúa Trịnh ép đi thi để lấyTrạng Nguyên, nên Quỳnh nhận lời.

    Lúc vào trường thi, Quỳnh làm bài rất nhanh, xong sớm trước nhiều thí sinh khác. Lẽ ra Quỳnh đem nộp quyển, nhưng vì chẳng biết chuyện đỗ đạt, nên táy máy giở bài ra xem lại. Thấy có một đoạn giấy trắng bên dưới, Quỳnh liền chấm bút vẽ ngay một bầy voi, rồi tiện tay đề luôn bên cạnh mấy câu thơ ngẫu hứng:

    Văn chương phú lục đã xong rồi,
    Thừa giấy làm chi, chẳng vẽ voi,
    Tớ có một điều xin bảo thật
    Đứa nào cười tớ, nó ăn bòi.

    Quỳnh làm như vậy là cố ý chọc tức quan chủ khảo, họ sẽ điên tiết lên khi đọc những dòng này và sẽ đánh hỏng Quỳnh với tội “phạm trường quy.” Thật ra, Quỳnh đâu cần sự thăng quan tiến chức.

    Lúc ấy, có viên giám thị đi theo dõi. Liếc thấy bài thơ tứ tuyệt ngạo mạn của Quỳnh, bèn chạy đi báo với quan giám khảo. Quan sơ khảo và quan phúc giám khảo rón rén đến dòm thử, thì quả đúng như vậy. Quỳnh biết các hành động của ban giám khảo, nhưng cứ tảng lờ coi như không. Đợi đến lúc các quan trường xúm lại đông đảo, Quỳnh mới đưa bút viết tiếp hai câu thơ nữa vịnh bức tranh voi vừa vẽ:

    Voi mẹ, voi con, voi lúc nhúc
    Chú sơ, chú phúc, rúc mà coi.

    Đám quan viên lúc này cảm thấy sượng sùng nên bấm nhau rút lẹ. Đứng lâu ở đó e không khéo lại bị Quỳnh chơi khăm, mất mặt nữa.

    Tiền múa ,Chúa cười

    Nhà Quỳnh nghèo lắm. Một lần ghé qua đền thờ bà Chúa Liễu, thấy nơi khám có nhiều tiền do khách thập phương cúng đặt ở trên mâm, Quỳnh nảy ra ý muốn vay. Cậu vừa gieo tiền xin âm dương vừa khấn:

    - Độ rày, em túng quẫn, chị lại để tiền không. Xin chị cho em vay, làm ăn khá em chẳng quên ơn chị. Nếu cho vay một phần tư, xin khiến hai đồng đều sấp; nếu cho vay một phần ba, xin cho hai đồng đều ngửa, còn cho vay một nửa, xin sấp ngửa bằng nhau.

    Theo kiểu cách ấy, thì đằng nào Quỳnh cũng vay được cả, mà ý bà Chúa Liễu vốn không thích tính Quỳnh, chẳng muốn cho vay, bèn làm cho cả hai đồng tiền quay tít không ngừng.

    Thấy vậy, Quỳnh reo lên:

    - A, tiền múa, Chúa cười! Chị thương em nghèo nên cho em vay cả. Xin đa tạ chị!

    Nói đoạn, Quỳnh trút hết tiền vào bao, buộc lại rồi ra về. Mắc mưu Quỳnh, bà Chúa phen này coi như mất trắng.

    Chọi gà sống thiến

    Sau vụ “Quyển Sách Quí” nọ, tên hoạn quan kia tức anh ách, rắp tâm tìm cách hại Quỳnh cho bằng được. Một lần kia, bọn hoạn quan tổ chức thi gà chọi, lại mời cả Chúa đến dự cuộc vui.
    Cuộc thi gà chọi được tổ chức tại sân nhà của Quỳnh. Ngay trận đầu tiên, người ta đã chứng kiến một cảnh tượng buồn cười vì con gà của Quỳnh chả có thủ thế hoặc lừa miếng gì cả, nó cứ nhằm đối thủ mà nhào vô mổ lia lịa, y nư những con gà bình thường đánh nhau vậy. Những người coi vốn ghét bọn hoạn quan vô lại, thấy vậy thích quá, reo hò kịch liệt, hoan hô ầm ỹ. Nhưng chỉ một lúc sau, con gà chọi loại chuyên nghiệp kia phản đòn, nó đâm một phát cựa trúng ngay ức con gà của Quỳnh. Chú gà đó giẫy đành đạch, chết tuốt. Chúa thấy thế cười khoái trá, còn những người đến xem thì chán nản bỏ về hết. Bọn quan hoạn được một phen reo hò đắc thắng, một tên đến bên Quỳnh bảo:
    - Thế mà nghe tin đồn gà của trạng mấy lần chọi thắng cả gà của sứ Tàu. Quả là láo phét!
    Quỳnh làm bộ buồn rầu nói:
    - Có thế thật đấy chứ. Nhưng từ ngày tôi mang thiến nó đi thì nó đâm ra tệ hại như thế này, nghĩ chết cũng đáng đời nó lắm! Bấy giờ, cả Chúa và lũ hoạn quan mới vỡ lẽ ra là đã bị Quỳnh chơi xỏ, đem gà trống thiến ra đấu với gà chọi chuyên nghiệp. Thế là cả vua, quan cùng chẳng ai bảo ai, tìm cách rút lui cho nhanh. Quỳnh vẫn cứ đứng đó than vãn, trước còn khe khẽ, sau cang lúc vật mình vật mẩy la lớn. Thấy bọn hoạn quan ra về kèn không chống, Quỳng đi theo, tay vẫn ôm khư khư con gà chết và khóc rống lên:
    - Khốn nạn cho cái thân mày chưa, gà ơi là gà. Mày đã bị thiến rồi mà còn đua đòi làm gì, tao bảo bao nhiêu lần rồi không nghe, cứ ngứa nghề tranh chọi, hu hu…Bây giờ mày có chết nhục nhã như thế này cũng đáng đời lắm, chỉ khổ cho tao đã tốn cơm, phí thóc nuôi mày, gà ơi là gà…!
    Bọn hoạn quan biết Quỳnh chửi xéo, chúng tức muốn điên nhưng không làm sao được, cứ cắm đầu mà đi. Nhưng Quỳnh có tha đâu, cứ lẽo đẽo đi theo đến tận cửa nhà chúng. Mấy quan thị nhà ta chịu hết xiết, đóng chặt cửa lại nhưng vẫn không thoát, tiếng chửi mỉa của Quỳnh vẫn cứ nghe lồng lộng.

    Hũ tương Đại phong

    Triều đình ngày nào cũng có yến tiệc ,sơn hào hải vị cùng các thứ thức ăn quí hiếm gọi là cứ thừa mứa không có chỗ mà đổ. Bởi thế nên nhà vua ăn mãi cũng chán lên đến tận cổ những thứ ấy, lại không còn thức gì chưa ăn. Một hôm rỗi rãi, vua kêu Quỳnh vào hỏi:
    - Trên đời này có bao nhiêu thứ của ngon vật lạ ta đã đều ăn qua, nhưng chả lẽ chỉ có bấy nhiêu là hết rồi hay sao? Có còn thứ gì ngon mà lạ hơn không nhỉ?
    - Có một món cực ngon gọi là mầm đá, chẳng hay bệ hạ đã nếm qua chưa ạ?
    Vua bảo rằng cái tên món ăn nghe lạ và mình cũng lần được ăn, xong lại bảo muốn thưởng thức món ấy ngay. Quỳnh thưa:
    - Món ăn ngon tất phải cực, nấu món đó rất công phu và tốn nhiều thời gian …
    Vua nói :
    - Ta muốn ăn vật lạ, lại rảnh rang không biết làm gì cho hết ngày, lo gì không đợi được. Trạng nhớ mau mau làm món ấy cho ta ăn thử nhé!
    Hai hôm sau, Quỳnh cho gia nhân mang thiếp vào cung mời vua ngự giá đến nhà mình thưởng thức món mầm đá. Vua lật đật đi ngay.
    Ðến nhà, vua thấy Quỳnh lăng xăng chạy tới chạy lui trong bếp, mồ hôi cha mồ hôi con cứ tươm ra như tắm. Thấy thế, vua lại càng nôn nóng, giục Quỳnh nấu mau mau cho mình hưởng cái món độc đáo ấy.
    Ðến quá trưa, Quỳnh vẫn cứ lăng xăng dưới bếp, chả thấy nói năng gì đến thức ăn được hay chưa cả. Vua đói bụng lắm rồi, bèn gắt:
    - Cái món quái quỷ gì mà nấu lâu thế? Ta không đợi được nữa rồi đây này!
    Quỳnh ra vẻ mệt mỏi, tâu:
    - Xin bệ hạ đợi cho chút nữa, sắp xong rồi ạ…
    Ðúng là không biết phải làm sao tốt hơn là đợi nên vua đành bấm bụng, tiếp tục đợi. Khốn thay, cho tới sẩm tối Quỳnh vẫn cứ bảo là chưa được. Vua đói quá bèn nói :
    - Không thể đợi được nữa! Trong nhà có thức gì khác cứ dọn lên cho ta ăn qua loa một miếng đi!
    Quỳnh vâng dạ rồi sai gia nhân dọn cơm lên phản cho vua xơi. Vua nhìn thấy mâm cơm rõ là xoàng xĩnh: chỉ có vỏn vẹn đãi rau luộc! Trong mâm có cái hũ sành nhưng vua chả biết đó là cái chết tiệt gì! Lúc chuẩn bị ăn, vua chỉ vào cái hũ rồi hỏi :
    - Trong đây đựng món gì?
    - Thưa, đấy là món “đại phong,” ạ!
    Quỳnh rót một ít cái thứ nước sền sệt gọi là “đại phong” ra chén rồi mời vua chấm rau. Vừa nhai rau trong miệng, vua vừa thốt lên:
    - Ngon quá, ngon quá! Nhà Trạng kiếm được cái thứ này ở đâu ra vậy, và tại sao lại gọi nó là đại phong?
    Quỳnh thưa:
    .- Bẩm, phong là gió, đại là lớn, mà gió lớn thì đổ chùa đấy ạ!
    Vua ngẩn ra vì ngạc nhiên. Quỳnh giải thích tiếp:
    - Ðổ chùa thì tượng lo, đọc lái lại là lọ tương. Bẩm, quả thực đó chỉ là một lọ tương rất tầm thường mà trong nhà những người nghèo đều có ạ! Sở dĩ Bệ hạ ăn thấy ngon như thế vì lâu nay toàn thưởng thức những sơn hào hải vị nên bây giờ thấy tương đậu cũng ngon, hơn nữa… vì bệ hạ đang đói cồn cào…
    Vua đã hiểu ra cái chân lý đơn giản ấy, bèn cười và cám ơn Trạng về bữa ăn ngon miệng rồi lên kiệu trở về.

    Quả đào trường thọ

    Vua được người nọ đem dâng một mâm đào đỏ hồng trông ngôn lành và hết sức đẹp mắt, ông ta nói đó là loại đào trường thọ, ai ăn vào sẽ sống lâu trăm tuổi.
    Vua thấy đào quí, chưa muốn ăn vội, cứ để đó khiến văn võ bá quan nhìn mà thèm đến nhỏ dãi. Nhưng của vua thì chớ ai dám động vào.
    Ngày kia, Quỳnh vào chầu, trông thấy mâm đào để trên long án. Quỳnh thản nhiên như không, đưa tay bẻ một trái cắn rau ráu. Các quan trong triều trông thấy sợ hết hồn đễn lỗi không dám nhìn.
    Vua biết Quỳnh ngang nhiên ăn đào quí của mình thì giận lắm, nhất định sử Quỳnh tội chết chém vì khi quân phạm thượng. Quỳnh nghe thế vẫn không tỏ ra sợ hãi, chỉ giả đò buồn rầu quì trước mặt nhà vua, tâu:
    - Thần mang tội xúc phạm đến bệ hạ, nay có chết cũng là đáng. Tuy nhiên, trước khi Quỳnh này ra đi gặp tổ tiên thì cũng xin có mấy lời muốn tâu, mong bệ hạ cho phép thần nói.
    Nhà vua bằng lòng, bảo cứ nói.
    Quỳnh thưa:
    - Không phải là thần tham ăn đến lỗi vì một đào mà mất mạng, nhưng chính vì tôi trung muốn hầu hạ Chúa thêm vài chục năm nữa n&


    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

     

    Lời trăng trối của Trạng Quỳnh

    Ðồn rằng có một lần vua ngự tuần ra Thanh Hóa. Nghe nói con cháu vẫn còn, vua bèn cho đòi đến. vâng lệnh tới hầu.

    Vua hỏi:

    - Trước khi Trạng chết có trối trăng lại điều chi không?

    Xiển đáp:

    - Dạ có ạ!

    Vua bảo: - Thế nhà ngươi hãy thuật lại lời Trạng trối trăng cho ta nghe.

    - Dạ tâu Hoàng thượng, cố tôi trước khi từ trần chỉ trối lại có một câu thôi ạ!

    - Một câu cũng được, cứ nói ta nghe.

    - Dạ, nhưng tôi không dám nói ạ!

    - Tại sao!

    - Dạ, nói ra sợ Hoàng thượng không được vui lòng.

    - Ðược cứ nói, dù câu nói ấy thế nào ta vẫn không bắt tội.

    Xiển năm bảy lần từ chối, vua năm bảy lần gặng hỏi, sau cùng Xiển mới thưa:

    - Dạ, tâu Hoàng thượng, ông tôi kể lại rằng: “Trước khi cố tôi nhắm mắt, con cháu xúm xít quanh giường hỏi cố tôi có dặn con cháu điều chi không. Nhưng cố tôi không trả lời. Con cháu không yên tâm, cứ gặng hỏi mãi, cố tôi chỉ quát lên một câu: “Hỏi cái mả cha bay hay sao mà hỏi mãi thế?”, rồi tắt thở.

    Avatar
    Chào thầy Mạnh. Lâu nay thầy vẫn khoẻ chứ ạ
    Avatar

    Mời Thầy cô và các bạn ghé thăm và chia sẽ kinh nghiệm với Trường Lê Lợi

    http://thpt-leloi-binhduong.violet.vn/

    http://webgdqp.violet.vn/

     
    Gửi ý kiến